Hầu như bậc cha mẹ nào cũng muốn con mình thành công trong cuộc sống – vì thế ta dạy con hình thành những thái độ mà ta tin là sẽ giúp con đạt được mục tiêu của mình. Nhưng theo như những gì tôi biết được khi nghiên cứu để viết cuốn sách The Happiness Track, nhiều lý thuyết phổ biến về các yếu tố cần thiết để thành công có vẻ phản tác dụng. Dĩ nhiên, các lý thuyết đó có thể tạo ra kết quả trong tương lai gần, nhưng cuối cùng sẽ khiến ta kiệt sức và ít thành công hơn. Dưới đây là vài lời khuyên tai hại nhất mà hiện nhiều người đang sử dụng để dạy con về thành công, và kèm theo là những lời khuyên thay thế.

1. Tập trung vào tương lai. Chú tâm vào phần thưởng

Rất khó để duy trì sự tập trung cao độ. Nghiên cứu cho thấy tâm trí ta có xu hướng suy nghĩ vẩn vơ trong phân nửa thời gian ta thức. Và khi đó, ta thường bắt đầu nghĩ ngợi về quá khứ hoặc lo lắng cho tương lai – từ đó gây ra những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, hối tiếc và căng thẳng. Một tâm trí liên tục cố tập trung vào tương tai – từ việc đạt điểm cao đến việc vào đại học – sẽ khiến trẻ lo âu và sợ hãi nhiều hơn. Mặc dù một chút căng thẳng có thể là động lực thúc đẩy trẻ, nhưng căng thẳng thường xuyên sẽ hủy hoại sức khỏe cũng như năng lực trí tuệ, sự tập trung và trí nhớ của trẻ. Hậu quả là thành tích của trẻ sẽ bị sa sút.

Con trẻ thường thể hiện tốt hơn và cảm thấy hạnh phúc hơn nếu biết học cách tận hưởng mỗi giây phút hiện tại. Đồng thời khi hạnh phúc, mọi người có khả năng học hỏi nhanh, suy nghĩ sáng tạo và giải quyết vấn đề dễ dàng hơn. Nghiên cứu còn cho thấy hạnh phúc giúp ta hoạt động hiệu quả hơn 12%. Cảm xúc tích cực cũng khiến ta kiên cường hơn khi đối diện với căng thẳng – vượt qua thử thách và trở ngại nhanh chóng hơn để có thể trở lại đúng hướng.

Có mục tiêu để hướng tới là rất tốt cho trẻ. Tuy nhiên, thay vì luôn bảo trẻ chú ý vào công việc tiếp theo trong danh sách việc cần làm, bạn hãy giúp trẻ tập trung vào nhiệm vụ hoặc cuộc trò chuyện đang diễn ra.

2. Căng thẳng là không thể tránh khỏi - cứ tiếp tục cố gắng đi

Trẻ em đang ngày càng sớm biết lo lắng. Trẻ lo về điểm số và cảm thấy áp lực phải học giỏi hơn ở trường. Thật đau lòng khi phải chứng kiến nhiều vụ trẻ em tự tử vì căng thẳng - đặc biệt là ở những khu vực có mức độ người thành công cao như Palo Alto ở Thung lũng Silicon.

Cách sống của chúng ta - những người trưởng thành - thường khiến trẻ hiểu rằng căng thẳng là điều không tránh khỏi để có thể thành công. Ta nốc cà phê, bận rốn với quá nhiều kế hoạch trong suốt cả ngày, sống trong tình trạng liên tục ép bản thân làm việc và vắt kiệt sức lực. Vào buổi tối, ta cảm thấy bồn chồn tới mức phải uống rượu, thuốc an thần để bình tâm. Nói chung, đây không phải là lối sống lành mạnh cho trẻ noi gương. Không có gì ngạc nhiên khi nghiên cứu cho thấy những trẻ có cha mẹ bị kiệt sức ở nơi làm việc dễ gặp phải vấn đề tương tự hơn so với bạn cùng trang lứa ở trường.

Tôi khuyên các bậc phụ huynh nên xem xét việc dạy con trẻ về các kỹ năng cần thiết để con trở nên kiên cường hơn khi đối mặt với những sự kiện căng thẳng. Dù không thể thay đổi các yêu cầu trong công việc và cuộc sống mà ta phải đối mặt ở nơi làm việc và trường học, nhưng ta có thể vận dụng nhiều phương pháp như thiền, yoga và tập hít thở để đương đầu tốt hơn với những áp lực trên. Các công cụ này hỗ trợ trẻ học cách khai phá hệ thần kinh đối giao cảm “nghỉ ngơi và tiêu hóa” (ngược lại với phản ứng chống căng thẳng “chiến đấu hoặc bỏ chạy”).

3. Hãy luôn bận rộn

Ngay cả khi nhàn rỗi, những con người trong xã hội phương Tây vẫn có xu hướng đánh giá cao những cảm xúc tích cực cường độ cao như phấn khích hơn là cảm xúc cường độ thấp như bình tĩnh. (Cách đánh giá ngược lại thì đúng ở nhiều nước Đông Nam Á.) Điều này có nghĩa là lịch trình của con trẻ thường dày đặc các hoạt động ngoại khóa và dã ngoại cùng gia đình, và hầu như không chừa chỗ cho thời gian để bình tâm – phục hồi năng lượng. Cảm thấy phấn khích, vui vẻ và tìm kiếm trải nghiệm mới mẻ thì không có gì sai. Tuy nhiên, cũng giống như căng thẳng, sự phấn khích khiến cơ thể hoạt động quá tải vì nó kích hoạt hệ thống “chiến đấu hoặc bỏ chạy”, và vì thế chúng ta có thể vô tình khiến trẻ đốt sạch năng lượng sau giờ học hoặc vào cuối tuần, và không có thời gian rảnh để bình tâm khi cần.

Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho biết não bộ chúng ta dễ nảy ra các ý tưởng xuất sắc khi ta không tập trung (hãy nghĩ đến khoảnh khắc ơ-rê-ka). Thế nên thay vì nhồi nhét nhiều hoạt động vào thời gian biểu của trẻ, ta nên để trẻ có thời gian chọn làm hoạt động mình thích. Trẻ có thể biến bất kỳ tình huống nào – dù là ngồi trong phòng chờ hay đi bộ đến trường – thành cơ hội vui chơi. Trẻ cũng có thể chọn hoạt động giúp bình tâm như đọc sách, dắt chó đi dạo hay đơn giản là nằm dưới tán cây để nhìn ngắm mây trời. Tất cả các hoạt động này sẽ cho phép trẻ sống trọn vẹn, cân bằng và yên bình hơn. Việc cho trẻ thời gian nghỉ ngơi sẽ giúp trẻ trở nên sáng tạo và đột phá hơn, và quan trọng không kém là trẻ sẽ học được cách thư giãn. 

4. Biết lượng sức mà chơi

Cha mẹ có xu hướng nhìn nhận trẻ qua các thế mạnh và hoạt động mà trẻ bẩm sinh giỏi thực hiện. Họ nói con mình “giỏi toán,” “hòa đồng” hoặc “giỏi vẽ.” Nhưng theo nghiên cứu của Carol Dweck thuộc Đại học Stanford, lối tư duy này thực ra lại bó buộc trẻ vào một mô-típ cố định và dễ khiến trẻ ngại thử làm những điều mới mẻ mà không thuộc thế mạnh của mình. Chẳng hạn, khi chủ yếu được khen vì giỏi điền kinh, trẻ có thể ít muốn ra khỏi vùng an toàn và thử gia nhập câu lạc bộ kịch. Điều này cũng có thể khiến trẻ lo âu và chán nản hơn khi gặp thất bại hoặc thử thách. Vì sao lại như thế? Đó là vì trẻ tin rằng nếu mình gặp trở ngại ở lĩnh vực nào thì điều đó sẽ khiến người khác nghĩ rằng trẻ “không giỏi” ở lĩnh vực đó.

Tuy nhiên, não bộ của chúng ta được lập trình để học hỏi điều mới, và quá trình này chỉ phát huy hiệu quả khi ta học hỏi từ sai lầm thuở bé của mình. Thế nên thay vì nhận xét về thế mạnh của trẻ, bạn hãy dạy trẻ biết rằng mình thực sự có thể học bất kỳ điều gì – miễn là mình cố gắng. Nghiên cứu của Dweck, tác giả cuốn sách bán chạy nhất Mindset, cho thấy cách này sẽ giúp trẻ lạc quan và thậm chí hào hứng hơn khi đương đầu với thách thức. Trẻ biết rằng mình chỉ cần thử thêm lần nữa để tiến bộ, đồng thời giảm khả năng thất vọng về bản thân và tài năng của mình.

5. Hiểu điểm yếu của mình và đừng dễ dãi

Ta cũng có xu hướng nghĩ rằng sự phê bình là rất quan trọng để ta cải thiện bản thân. Tuy sự tự nhận thức chắc chắc cần thiết, nhưng cha mẹ thường vô tình dạy con trẻ tự trách bản thân quá mức. Ví dụ, nếu cha mẹ nói với trẻ rằng trẻ nên cố gắng cởi mở hơn, thì đứa trẻ đó có thể nghĩ cha mẹ đang chỉ trích tính cánh hướng nội bẩm sinh của mình. Nhưng nghiên cứu về việc tự chỉ trích cho thấy cơ bản hành vi này chỉ khiến ta làm hại bản thân. Hành vi tự chỉ trích khiến bạn chỉ tập trung vào vấn đề của bản thân, do đó bạn mất tự tin. Hành vi này còn khiến bạn sợ thất bại, dễ bỏ cuộc hơn và đưa ra quyết định tồi. Tự chỉ trích còn rất có thể khiến bạn cảm thấy lo âu và nản lòng khi đối mặt với thử thách.

Thay vào đó, cha mẹ nên động viên con trẻ phát triển tình yêu thương đối với bản thân - nghĩa là đối xử với mình như cách mình sẽ đối xử với bạn bè khi họ thất bại hoặc đau khổ. Điều này không có nghĩa là trẻ nên nuông chiều bản thân hoặc trốn tránh mỗi khi gây chuyện, mà đơn giản là trẻ cần học cách không tự trách mình. Ví dụ, một đứa trẻ rụt rè biết yêu thương bản thân sẽ tự nhủ rằng nếu thỉnh thoảng mình cảm thấy ngại ngùng thì cũng không sao, rằng mình chỉ đơn giản là người hướng nội, và rằng mình có thể đặt ra những mục tiêu nhỏ và dễ dàng để ra khỏi vỏ bọc. Lối tư duy như vậy sẽ cho phép trẻ trở nên vượt trội khi đối diện với thử thách, phát triển kỹ năng xã hội mới và biết sửa chữa lỗi lầm.

6. Ai cũng hành động vì lợi ích cá nhân, nên con cứ lo cho bản thân và mặc kệ những người khác

Nghiên cứu cho thấy từ thời thơ ấu, các kết nối xã hội là dấu hiệu dự báo quan trọng nhất về sức khỏe, hạnh phúc và tuổi thọ của ta. Việc có mối quan hệ tích cực với người khác là rất quan trọng để ta có sức khỏe tốt - từ đó tác động đến năng lực trí tuệ và thành công cuối cùng theo hướng tích cực. Ngoài ra, tính tình dễ mến là một trong những dấu hiệu dự báo thành công rõ ràng nhất. Giáo sư Adam Grant tại Wharton đã viết trong quyển Give & Take rằng, nếu thể hiện lòng trắc ẩn với những người xung quanh và tạo dựng mối quan hệ tương trợ lẫn nhau thay vì chỉ tập trung vào bản thân, bạn sẽ thực sự thành công hơn về lâu dài – miễn là bạn không để người ta lợi dụng mình.

Trẻ bẩm sinh đã biết cảm thông và tử tế. Tuy nhiên theo nhà tâm lý học Jean Twenge trong quyển Generation Me, giới trẻ hiện nay cũng đang ngày một thu mình lại. Thế nên điều quan trọng là bạn phải khơi gợi bản năng tự nhiên của trẻ là biết quan tâm đến cảm giác của người khác, đồng thời dạy trẻ cách đặt mình vào hoàn cảnh của đối phương.

Quả thực thế giới ngoài kia đầy ắp khó khăn, nhưng khó khăn sẽ giảm đi rất nhiều nếu tất cả chúng ta đều bớt tập trung vào việc tranh đấu khốc liệt và ưu tiên cho việc học cách sống hòa hợp với nhau.